Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Đôi bạn sáng lập WhatsApp thành tỷ phú vì ghét quảng cáo

Jan Koum, người đồng sáng lập WhatsApp - Ảnh: AP.


Đôi bạn sáng lập WhatsApp thành tỷ phú vì ghét quảng cáo

Vụ bán lại WhatsApp cho mạng xã hội Facebook với mức giá 19 tỷ USD chắc chắn sẽ đưa hai nhà đồng sáng lập của ứng dụng nhắn tin di động này trở thành những tỷ phú mới nhất trong làng công nghệ.Theo hãng tin tài chính Bloomberg, câu chuyện tưởng như "thần kỳ" này bắt đầu ở Yahoo! cách đây mấy năm...

Khi đó, Jan Koum, một kỹ sư của Yahoo! cảm thấy "vỡ mộng" với việc các công ty Internet lúc nào cũng chăm chăm tìm kiếm cách thêm quảng cáo. Năm 2007, Koum cùng với một kỹ sư khác của Yahoo! là Brian Acton thôi việc ở công ty này. Đến năm 2009, họ cùng nhau thành lập một công ty quyết tâm nói "không" với quảng cáo, và WhatsApp ra đời.

Chiến lược tránh xa quảng cáo cho phép Koum và Acton tập trung vào việc phát triển một ứng dụng tin nhắn dễ sử dụng, thay vì phải tìm ra những cách thức mới để thu thập thông tin của người sử dụng cho các mục đích quảng cáo.

"Chẳng ai hứng thú với việc mỗi sáng thức dậy lại nhìn thấy thêm quảng cáo, chẳng ai thích mỗi tối đi ngủ lại phải nghĩ đến những quảng cáo mà họ sẽ nhìn thấy vào sáng mai", Koum viết trong một bài viết trên trang cá nhân vào năm 2012.

"Không quảng cáo! Không trò chơi!", anh tuyên bố cách làm của mình.

Cách làm này đã đem lại kết quả. WhatsApp đạt được con số 450 triệu người sử dụng hàng tháng, nhiều gấp đôi mạng xã hội tiểu blog Twitter nơi có hàng tỷ tin nhắn được gửi đi mỗi ngày. Và ngày 19/1, Facebook đã chi tổng cộng 19 tỷ USD để mua lại công ty mới 5 năm tuổi WhatsApp.

Trong thương vụ này, mạng xã hội lớn nhất hành tinh sẽ trả 4 tỷ USD bằng tiền mặt và 12 tỷ USD bằng cổ phiếu Facebook. Ngoài ra, Facebook còn "hào phóng" trả cho nhóm tác giả What'sApp 3 tỷ USD bằng cổ phiếu bị hạn chế bán ra trong vòng 4 năm tới.

Vụ thâu tóm WhatsApp là thương vụ lớn nhất trong lĩnh vực Internet kể từ vụ Time Warner mua lại AOL với giá 124 tỷ USD vào năm 2001. Giá trị "khủng" của thương vụ gần như chắc chắn sẽ đưa Koum và Acton trở thành tỷ phú.

Đối với Koum, 38 tuổi, may mắn này hoàn toàn trái ngược với tuổi thơ của anh. Thời Koum còn là một thiếu niên, gia đình anh phải sống nhờ vào tem phiếu thực phẩm sau khi nhập cư từ Ukraine vào Mỹ. Chính những kỷ niệm khi còn sống ở một vùng thôn quê Ukraine nơi các đường dây điện thoại thường bị nghe lén đã khiến Koum nhận thấy tầm quan trọng của sự riêng tư.

Bởi thế, tác giả của WhatsApp không để ứng dụng này thu thập thông tin của người sử dụng như tên tuổi, giới tính, địa chỉ... Thay vào đó, người sử dụng được dùng ứng dụng này sau khi số điện thoại của họ được chứng minh là có thật.

Cả Koum và Acton đều có những ký ức về lần sụp đổ đầu tiên của bong bóng dot-com. Acton, 42 tuổi, lớn lên ở Michigan, Mỹ, là nhân viên thứ 44 tại Yahoo!. Anh từng làm trong bộ phận quảng cáo, mua sắm và dịch vụ lữ hành của "đế chế" Internet này. Anh đã đầu tư trong thời gian bong bóng dot-com phình to và thua lỗ hàng triệu USD khi thị trường lao dốc sau đó.

Chính Acton là người đã tuyển Koum vào Yahoo! làm việc với tư cách một cố vấn. Hai người nhanh chóng trở nên thân thiết, mời nhau tới nhà chơi và cùng đi trượt tuyết. Sau khi rời khỏi Yahoo!, Acton nói trên Twitter rằng anh muốn xin việc vào Facebook vào năm 2009 nhưng không được nhận.

Không lâu sau trong năm đó, Acton và Koum lập nên WhatsApp với ý tưởng người sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) có thể gửi tin nhắn dễ dàng cho nhau mà không gây phát sinh phí phải trả cho các nhà mạng. Dịch vụ này miễn phí trong năm đầu tiên, sau đó áp mức phí 0,99 USD/năm sau đó.

WhatsApp hoàn toàn không đưa quảng cáo vào dịch vụ của mình và cũng không tuyển người phụ trách quan hệ công chúng (PR). Thay vào đó, dịch vụ này phát triển hoàn toàn dựa trên sự truyền miệng của người sử dụng và trở nên phổ biến đối với người dùng là bạn bè và người thân liên lạc "xuyên" quốc gia, nhất là ở châu Âu, vì giúp tiết kiệm phí điện thoại.

Acton và Koum có lối sống rất kín đáo. Họ thậm chí còn không treo biển bên ngoài văn phòng của WhatsApp ở Moutainview.

Chiến lược không quảng cáo mà WhatsApp theo đuổi trái ngược với những nỗ lực kiếm tiền từ quảng cáo trên điện thoại di động của Facebook. Tuy nhiên, sau khi vụ thâu tóm được công bố, Koum tuyên bố trên website riêng của WhatsApp là ứng dụng này sẽ tồn tại và hoạt động độc lập.

"Sẽ không có sự hợp tác nào giữa WhatsApp và Facebook, nếu chúng tôi phải thỏa hiệp những nguyên tắc cốt lỗi mang tính định nghĩa với công ty, tầm nhìn và sản phẩm của mình", Koum nói.

         Hành trình "từ khố rách đến giàu sụ" của cha đẻ WhatsApp

Trong bài viết độc quyền có tên "Từ khố rách đến giàu sụ", Forbes tin rằng Jan Koum đang nắm trong tay khoảng 45% cổ phiếu của WhatsApp, và do vậy, bất ngờ sở hữu tới 6,8 tỷ USD.
 >>  Facebook mất giá sau khi chi 19 tỷ USD mua WhatsApp
 >>  Facebook mua lại WhatsApp với giá lên tới 19 tỷ USD


Tuổi thơ dữ dội
Brian Acton và Jan Koum, hai đồng sáng lập của WhatsApp.
Brian Acton và Jan Koum, hai đồng sáng lập của WhatsApp.
Koum, đồng sáng lập ra WhatsApp, sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng nhỏ ngoại ô Kiev, Ukrania, là con duy nhất trong một gia đình có bố là quản đốc xây dựng còn mẹ làm nội trợ. Căn nhà ông ở không có điện, cũng chẳng có nước nóng.
Năm 16 tuổi, Koum và mẹ di cư đến Mountain View sau những khủng hoảng chính trị và sự sụp đổ của Liên xô cũ. Họ được bố trí ở một căn hộ nhỏ, 2 phòng ngủ nhờ sự giúp đỡ từ chính phủ. Bố của Koum bị kẹt lại Ukraina và mãi mãi không có cơ hội đi theo hai mẹ con. Mẹ của Koum bắt ông phải dùng bút và chồng vở do chính phủ Xô viết cấp cho để không phải nộp phí văn phòng phẩm tại trường Mỹ. Bà cũng nhận trông trẻ trong khi Koum lau sàn cho một cửa hàng thực phẩm gần nhà để có tiền trang trải cuộc sống. Khi mẹ ông bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư, họ đành sống qua ngày từ tiền trợ cấp tàn tật của bà. Koum nói tiếng Anh đủ tốt nhưng không thích cách kết bạn ở trường phổ thông của Mỹ. "Ở Nga, bạn chỉ chơi với cùng một nhóm bạn suốt 10 năm học. Ở Mỹ, họ dễ dàng thân nhưng cũng dễ dàng quên nhau".
Với tính cách khép kín của mình, Koum là học sinh cá biệt ở trường. Rất may là đến năm 18 tuổi, ông đã tự học về mạng và máy tính nhờ những tài liệu hướng dẫn mua được từ một tiệm sách cũ. Để tiết kiệm tiền, mỗi khi đọc xong, Koum lại mang sách trả cho tiệm và chuyển sang quyển khác. Ông cũng gia nhập nhóm hacker có tên w00w00 trên mạng RCN Efnet, xâm nhập vào máy chủ của Silicon Graphics và chat với đồng sáng lập Sean Fanning của Napster.
Ông nộp đơn vào Đại học San Jose nhưng đi làm thêm với tư cách chuyên gia test bảo mật cho Ernst & Young. Năm 1997, ông ngồi đối diện với Brian Acton, một nhân viên Yahoo 44 tuổi phụ trách hệ thống quảng cáo.
Cả Koum và Acton đều là tuýp người không màu mè, không thích làm những điều vô nghĩa mà chỉ chăm chăm nhảy thẳng vào vấn đề, khác hẳn với phong thái "nhẹ nhàng, lịch sự bề mặt" của E&Y. 6 tháng sau, Koum đến phỏng vấn xin việc tại Yahoo và nhận được công việc là một kỹ sư hệ thống.
Ông vẫn song song theo học tại Đại học San Jose và đi làm tại Yahoo, nhưng được 2 tuần thì một máy chủ bị đơ. Đồng sáng lập David Filo của Yahoo gọi vào di động cho Koum, yêu cầu đến hỗ trợ. "Em vẫn đang trong lớp", Koum trả lời. "Cậu làm cái quái gì trong lớp vậy?". Filo gắt lại. "Nhấc mông đến văn phòng ngay". Filo chỉ có một nhóm nhỏ kỹ sư phụ trách máy chủ nên cần huy động mọi sự trợ giúp có thể.
"Đằng nào thì em cũng ghét trường học", Koum nhún vai. Và rồi ông bỏ học.
Hành trình khó tin
Khi mẹ của ông qua đời năm 2000 vì bệnh ung thư, đột nhiên Koum nhận ra mình cô độc. Cha ông cũng mất trước đó vào năm 1997. Ông coi Acton là người bạn duy nhất, là điểm tựa còn lại lúc này. "Ông ấy mời tôi tới nhà chơi", Koum nhớ lại. Hai người đi trượt tuyết, chơi bóng đá với nhau.
Trong suốt 9 năm, bộ đôi đã chứng kiến Yahoo trải qua nhiều thăng trầm. Acton đầu tư vào cơn sốt dotcom và mất hàng triệu đô khi cơn sốt này xì hơi năm 2000.
Tháng 9/2007, Koum và Acton quyết định rời Yahoo và dành một năm sau đó để xả stress khi đi du lịch vòng quanh Nam Mỹ. Cả hai đều nộp đơn vào Facebook nhưng cùng bị từ chối. Koum bắt đầu phải tiêu đến số tiền 400.000 USD tiết kiệm được khi còn làm ở Yahoo và trở nên mất phương hướng. Tháng 1/2009, ông mua một chiếc iPhone và nhận ra quầy ứng dụng App Store 7 tháng tuổi có thể mở ra cả một ngành công nghiệp mới mang tên ứng dụng. Koum đã ghé thăm nhà của Alex Fishman, một người bạn Nga hào phóng và rộng rãi. Fishman có thể mời cả cộng đồng người Nga ở West San Jose (đôi khi lên tới 40 người) tới nhà mình hàng tuần để ăn pizza và xem phim. Hai người họ cứ thế đứng nói chuyện hàng giờ về ý tưởng của Koum.
"Jan cho tôi xem sổ địa chỉ của cậu ta", Fishman nhớ lại. "Cậu ta nghĩ sẽ rất tuyệt nếu ta có thể chèn thêm trạng thái bên cạnh từng cái tên đó". Trạng thái này sẽ hiển thị bạn đang gọi điện, pin đang yếu hay bạn đang ở phòng tập. Koum có thể làm hết công việc backend, nhưng vẫn cần một lập trình viên iPhone, vì thế Fishman đã giới thiệu Koum với Igor Solomennikov, một lập trình viên tại Nga.
Koum gần như chọn ngay tức khắc cái tên WhatsApp bởi nó nghe giống với "Chuyện gì thế?". Một tuần sau, đúng ngày sinh nhật của mình, 24/2/20109, ông lập ra WhatsApp Inc tại California. Khi ấy, ứng dụng này thậm chí còn chưa được viết. Koum dành nhiều ngày sau đó để viết mã backend, đồng bộ hóa ứng dụng của mình với các số điện thoại trên thế giới.
WhatsApp thời kỳ đầu thường xuyên treo hoặc bị nghẽn, và khi Fisherman cài đặt nó lên điện thoại của mình, chỉ có vài người trong số hàng trăm bạn bè của ông chịu download WhatsApp.
Vài tháng sau, Koum bế tắc thừa nhận anh nên bỏ cuộc và tìm việc mới. Acton phản bác. "Chỉ có ngu mới từ bỏ lúc này. Hãy thử thêm vài tháng nữa".
Koum nhận được sự trợ giúp từ Apple khi tính năng báo nhắc (push notifications) được cung cấp vào tháng 6/2009. Jan bèn cập nhật WhatsApp để mỗi khi bạn thay đổi trạng thái của mình, ứng dụng này sẽ báo với mọi người trong danh bạ của bạn. Bạn bè của Fishman bắt đầu sử dụng WhatsApp để trêu đùa nhau bằng những trạng thái như "Tôi dậy muộn" hay "Tôi đang trên đường".
Có những thời điểm nó gần như đã trở thành tin nhắn nhanh IM. Chúng tôi bắt đầu sử dụng nó thay cho câu "Bạn có khỏe không?". Jan nhận ra mình đã vô tình tạo ra một dịch vụ nhắn tin.
Dịch vụ nhắn tin miễn phí duy nhất cạnh tranh lúc đó với WhatsApp là BBM của BlackBerry, nhưng dịch vụ này tất nhiên chỉ phục vụ cho điện thoại BlackBerry. Rồi G-Talk của Google và Skype nhập cuộc, nhưng WhatsApp vẫn là độc nhất khi cho phép người dùng đăng nhập bằng chính số điện thoại của họ, thay vì username và mật khẩu phiền phức. Koum phát hành WhatsApp 2.0 với tính năng nhắn tin và chứng kiến số người dùng thường xuyên đột ngột tăng lên 250.000. Koum bèn đến gặp Acton, người lúc này vẫn đang thất nghiệp và vô vọng theo đuổi một ý tưởng startup chẳng dẫn đến đâu.
Hai người ngồi bên bàn bếp của Acton và bắt đầu gửi tin nhắn cho nhau thông qua WhatsApp, lúc này đã có biểu tượng 2 dấu tích để thông báo rằng số điện thoại bên kia đã nhận được tin nhắn. Acton nhận ra ông đang đứng trước một trải nghiệm SMS đầy tiềm năng và hiệu quả hơn hẳn tin nhắn MMS trong việc gửi ảnh, gửi file. Tháng 10 năm đó, Acton thuyết phục được 5 cựu nhân viên Yahoo đầu tư 250.000 USD cho WhatsApp. Ông trở thành đồng sáng lập của WhatsApp, kèm theo một lượng cổ phần đáng kể. Acton chính thức gia nhập WhatsApp Inc vào ngày 1/11.
Hành trình sau đó giống như một giấc mơ. Email lũ lượt đổ về từ người dùng iPhone, phấn khích bởi triển vọng của việc nhắn tin xuyên quốc gia miễn phí và tuyệt vọng muốn được nhắn tin cho bạn bè dùng Nokia hay BlackBerry. Với việc Android lúc này còn chưa xuất hiện trên radar, Koum đã tuyển người bạn cũ - Chris Peiffer phát triển phiên bản WhatsApp trên BlackBerry. "Tôi hơi hoài nghi lúc đầu. Mọi người đã có SMS rồi mà?", Peiffer nhớ lại. Nhưng rồi Koum giải thích rằng tin nhắn SMS bị hạn chế rõ rệt bởi biên giới giữa các quốc gia. "Đó là một công nghệ chết giống như máy Fax vậy". Peiffer liếm mép nhìn vào tốc độ tăng trưởng người dùng khó tin của WhatsApp và gật đầu.
Koum và Acton làm việc không công trong vài năm đầu và chỉ bắt đầu có thu nhập từ đầu năm 2010, với doanh thu hàng tháng khoảng 5000 USD, vừa đủ để trang trải các chi phí. Đôi lúc, bộ đôi chuyển trạng thái của ứng dụng từ miễn phí sang trả tiền để nền tảng người dùng không tăng quá nhanh. Tháng 12/2009, họ nâng cấp WhatsApp dành cho iPhone, cho phép gửi ảnh và choáng váng khi thấy người dùng vẫn tăng trưởng chóng mặt kể cả khi thu phí 1 USD.
Thế là Acton quay sang Koum, "Cậu biết không, tôi thấy chúng ta có thể duy trì việc thu tiền được đấy".
Đến đầu năm 2011, WhatsApp đã lọt vào Top 20 ứng dụng của App Store tại Mỹ. Trong một bữa trưa với nhân viên, ai đó đã hỏi Koum vì sao ông không quảng cáo với báo chí về điều này. "Marketing và báo chí chỉ thổi bụi lên, bay vào mắt bạn và khiến bạn quên mất việc tập trung vào sản phẩm", Koum đáp.
Nhưng các nhà đầu tư mạo hiểm chẳng cần tới báo chí mới biết WhatsApp đang nổi như cồn. Koum và Acton, tuy vậy, từ chối mọi yêu cầu thương thảo. Acton coi VC như những con cá mập, nhưng Jim Goetz của hãng Sequoia vẫn kiên trì tới phút chót, dành trọn 8 tháng để thuyết phục hai nhà sáng lập. Trước WhatsApp, Goetz đã tiếp xúc với cả chục công ty khác trong lĩnh vực tin nhắn như Pinger, Tango hay Baluga, nhưng rõ ràng WhatsApp mới là thủ lĩnh và Goetz bất ngờ khi thấy công ty này đã bắt đầu đóng thuế doanh nghiệp cho Chính phủ. "Đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình tôi thấy hiện tượng này".
Quyết tâm bằng mọi giá, Goetz chấp nhận đầu tư vào WhatsApp mà không cố cài cắm mô hình quảng cáo. Cuối cùng, Koum và Aton đã đồng ý nhận 8 triệu USD từ Sequoia.
2 năm sau, tháng 2/2013, khi nền tảng người dùng của WhatsApp cán mốc 200 triệu người dùng thường xuyên hàng tháng, Acton và Koum nhất trí rằng đã đến lúc phải quyên thêm tiền. "Để bảo đảm tương lai", Acton giải thích. Họ tổ chức một đợt gây quỹ lần hai trong bí mật. Sequoia rót thêm 50 triệu USD nữa và định giá WhatsApp khoảng 1,5 tỷ USD.
Với số tiền lớn trong tài khoản ngân hàng, Acton đến sàn bất động sản địa phương, thích thú trước một tòa nhà 3 tầng nơi góc phố. Sàn giao dịch chẳng biết WhatsApp là ai, nhưng có tiền là nói chuyện được. Tòa nhà này hiện vẫn đang xây dựng và WhatsApp sẽ dọn đến đó vào mùa hè này, khi số lượng nhân viên mở rộng gấp đôi lên 100 người.

WhatsApp kiếm tiền ra sao?

Zing.vn - 33 phút trước 1133

Mượn thành công của WhatsApp hiện nay, để nói về cách kiếm tiền của các dịch vụ OTT khác như Line, Zalo, Viber...


Phần mềm nhắn tin, gọi điện miễn phí trên smartphone không còn xa lạ với người dùng Việt Nam. Cuộc chiến giành thị phần của các tên tuổi lớn là tâm điểm của làng công nghệ trong năm 2013. Từ Viber, Line, KakaoTalk đến Zalo đều quảng cáo dịch vụ của họ miễn phí nhưng tốn hàng triệu USD cho quảng cáo. Vậy OTT kiếm tiền bằng cách nào để bù đắp chi phí?

WhatsApp kiếm tiền ra sao?

Điều mà mọi người nghĩ đến đầu tiên có lẽ là quảng cáo, tuy nhiên nếu từng sử dụng qua các dịch vụ này có thể thấy, quảng cáo gần như không xuất hiện (không tính các tin nhắn spam mà người dùng gặp phải). Như vậy, quảng cáo có thể là nguồn thu, nhưng không phải nguồn thu chính của các dịch vụ này. Một vài dịch vụ như KakaoTalk, Viber, Tango, Line sử dụng cách kiếm tiền phổ biến khác là bán các sticker ngộ nghĩnh cho phần mềm chat. Người dùng sẽ phải trả một khoản phí để download các sticker này. Ngoài ra, một số thương hiệu muốn quảng bá hình ảnh của mình thông qua sticker cũng có thể được các tên tuổi này phân phối giúp. Phổ biến hiện nay là hình ảnh các nhân vật hoạt hình Despicable Me 2 trên Facebook.

WhatsApp kiếm tiền ra sao?
Line nổi tiếng với việc sử dụng những biểu tượng biểu cảm dễ thương, thu hút giới trẻ.
Line là ứng dụng OTT tiêu biểu cho việc biết kiếm tiền nhanh. Hãng này nhanh chóng phát triển nền tảng game để tận dụng lượng người trên phần mềm này tải các trò chơi và mua vật phẩm, bỏ qua các chướng ngại vật để lên level. Biến OTT thành một nền tảng game cũng là mục tiêu mà nhiều ứng dụng khác đang hướng tới.

Nếu như phần lớn các ứng dụng OTT là miễn phí, thì vẫn có những khoản người dùng phải trả phí. WhatsApp là ứng dụng như vậy. Người dùng phần mềm này sau thời gian sử dụng miễn phí sẽ phải đăng ký thuê bao 0,99 USD/năm để sử dụng. WhatsApp là một trong những dịch vụ OTT đầu tiên, cũng là dịch vụ mà không sử dụng bất cứ chiêu chò, hay quảng cáo nhưng vẫn thu hút được cực nhiều người sử dụng. Tuy nhiên, trong bối cảnh các OTT miễn phí xuất hiện nhiều, cách thức kiếm tiền này được các chuyên gia cho là không khôn ngoan. Người dùng sẵn sàng rời bỏ để chuyển sang dịch vụ khác. Bằng chứng việc WhatsApp chỉ "hot" trong thời gian đầu và hoàn toàn mất hút tại Việt Nam. Thế nhưng không quảng cáo, không trò chơi, không bán vật phẩm, đây dường như là cách thức duy nhất kiếm tiền của công ty này trước khi Facebook mua lại ngày hôm nay.

WhatsApp kiếm tiền ra sao?

Ngoài ra, việc quảng bá các thương hiệu lớn, bán hình nền, nhạc... cũng là nguồn thu lớn cho các OTT. Ước tính, với hàng triệu người dùng, chỉ 10% trong số đó sẵn sàng một USD để mua vật phẩm, các OTT này đã thu được hàng triệu USD.

Dẫn đầu thị trường OTT tại Việt Nam với 8 triệu khách hàng, đến nay Viber vẫn chưa có động tĩnh gì trong việc kiếm tiền. Ở thị trường quốc tế, hãng này đã giới thiệu gói Viber Out cho phép gọi điện từ OTT đến số máy bàn với phí rẻ và dịch . Tuy nhiên, sau khi được bán lại cho công ty Nhật Bản với giá 900 triệu USD, chưa công ty này sẽ có những cải tiến cũng như cách kiếm tiền nào cho Viber.

Trong khi đó, tên tuổi nội duy nhất trong cuộc đua OTT là Zalo lại bắt đầu với hướng đi riêng. Đầu 2014, Zalo được McDonald's chọn là đối tác đầu tiên tại Việt Nam. Theo đó, với 7 triệu khách hàng trẻ, McDonald's chọn Zalo là kênh quảng bá cho việc xuất hiện tại thị trường Việt Nam cũng như tặng các suất ăn miễn phí trước ngày khai trương.

Không chỉ McDonald's, Zalo cũng đã kết hợp với CocaCola để quảng bá hình ảnh tới khách hàng trẻ. Nhiều tên tuổi trong lĩnh vực thức ăn nhanh, di động, thời trang như Noir, Maschino, KFC, LG Mobile, Domino's Pizza cũng đã chọn Zalo để tiếp cận khách hàng.

WhatsApp kiếm tiền ra sao?
Zalo không "bắn" thông báo quảng cáo nếu khách hàng chưa bấm quan tâm đến nhãn hiệu mà mình chọn. Do đó, người dùng không bị làm phiền và lượng khách hàng quan tâm đến nhãn hiệu cũng chính xác hơn. Việc kết hợp cùng các nhãn hiệu nước ngoài lớn cũng giúp Zalo giữ đúng tiêu chí miễn phí của mình.

Theo nhiều chuyên gia, hướng đi của Zalo nhắm vào các nhãn hàng thương mại trong thời điểm hiện nay là bước đi thông minh. Theo đó, các tên tuổi có thể nhanh chóng tiếp cận với khách hàng của mình, trong khi người dùng cũng sớm nắm bắt các thông tin mua sắm, khuyến mãi và sử dụng ngay chính Zalo để giao dịch.

Một giả thiết khác cũng hoàn toàn có thể xảy ra, đó là thông tin người dùng. Lý lịch, các cuộc trò chuyện của người dùng trên các dịch vụ này hoàn toàn có thể bị theo dõi bởi nhà cung cấp, sẽ có những đối tượng hoặc các chính phủ sẵn sàng bỏ tiền, thậm chí là số tiền cực lớn cho những thông tin đó. Tất nhiên điều này chỉ là dự đoán, và chẳng công ty nào thừa nhận thông tin này cả.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét